Tổng hợp những văn bản đáng chú ý trong chương trình Ngữ Văn lớp 11

258 Lượt xem

Môn Ngữ văn là một môn học với các văn bản là các loại hình sáng tác, tái hiện lại cuộc sống con người, xã hội qua từng thời kỳ lịch sử. Phương pháp sáng tác văn bản đã được tác giả thông qua sự hư cấu, nội dung và đề tài đều được thể hiện qua ngôn ngữ. Thông qua đó tác giả đã muốn nhấn mạnh tính thẩm mỹ, sự sáng tạo của các văn bản được thể hiện qua cách sử dụng ngôn ngữ của tác giả, gọi là ngôn từ nghệ thuật. Tác giả đã tận dụng cái tài sử dụng ngôn ngữ của mình để phản ánh triệt để đời sống xã hội, con người qua từng giai đoạn.

>> Đọc thêm: Mách bạn 6 cách tìm kiếm gia sư dạy kèm tại nhà chất lượng

1. Tổng quan Ngữ văn lớp 11

Chương trình Ngữ văn lớp 11 có dung lượng kiến thức không kém gì cho với chương trình Ngữ văn lớp 12. Ngữ văn lớp 11 cung cấp cho học sinh khá là đầy đủ những kiến thức của cả Văn học Việt Nam và Văn học nước ngoài. Về phần Văn học Việt Nam học sinh sẽ được học tiếp văn học trung đại và tiếp cận với văn học hiện đại đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng 8 năm 1945. Thông qua các bài học, học sinh có thể nắm bắt được những kiến thức cơ bản và phần nào hình dung ra được bức tranh xã hội thời bấy giờ.

Các tác phẩm thời kì trung đại như là: Vào phủ chúa Trịnh (Lê Hữu Trác), Thu điếu (Nguyễn Khuyến), Tự tình II (Hồ Xuân Hương), Thương vợ (Tế Xương)… và các tác phẩm văn học cận hiện đại và hiện đại tiêu biểu như là: Hai đứa trẻ (Thạch Lam), Hạnh phúc của một tang gia (Vũ Trọng Phụng), Chí Phèo (Nam Cao), Vội vàng (Xuân Diệu), Tràng Giang (Huy Cận), Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mạc Tử), Từ ấy (Tố Hữu), Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân), Vĩnh biệt cửu trùng đài (Nguyễn Huy Tưởng), Chiều tối (Hồ Chí Minh)

Ngoài ra, phần Văn học nước ngoài cũng sẽ cho các em tầm nhìn rộng hơn về văn học trên thế giới với một số tác phẩm kinh điển như là: Rô - me - ô và Giu - li - ét (William Shakespeare), Người trong bao (Chekhov). Tôi yêu em (Puskin), Những người khốn khổ (Victor Hugo),…

Với số lượng tác phẩm như vậy sẽ giúp các em học sinh có khả năng đọc-hiểu tốt hơn, có khả năng phân tích văn bản sâu rộng và kĩ năng làm văn với thao tác lập luận. Vì trong chương trình đào tạo, đối với Ngữ văn lớp 11, chỉ có các tác phẩm Văn học Việt Nam mới có trong đề thi Tuyển sinh Đại học nên dưới đây tôi xin phép tổng quan lại kiến thức các tác phẩm văn học Việt Nam đáng chú ý.

2. Một số văn bản đáng chú ý trong chương trình Ngữ văn lớp 11

Chương trình môn Ngữ văn lớp 11, Văn học Việt Nam được chia làm 2 giai đoạn: Văn học thời kì Trung Đại và Văn học hiện đại (đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945)

2.1 Văn học Trung Đại
2.1.1 Vào phủ chúa Trịnh-Lê Hữu Trác

“Vào phủ chúa Trịnh”  là một trong những đoạn trích thuật lại việc tác giả được chúa Trịnh Sâm triệu hồi vào chữa cho Thế tử Trịnh Cán. Qua đoạn trích này, tác giả muốn vẽ lên cho người đọc thấy được bức tranh sinh động về cuộc sống sa hoa, vương giả và hiện thực của sống nơi phủ chúa mà người thường không bao giờ thấy được.

- Về nội dung: đoạn trích mang giá trị hiện thực vô cùng sâu sắc. Là một người có lối sống giản dị, ẩn dật, thanh đạm luôn giữ cho mình trong sạch không để cho đồng tiền ràng buộc hay sự giàu sang phú quý làm vấy bẩn, Lê Hữu Trác có lối sống hoàn toàn đối lập với sự sa hoa phú quý , trụy lạc trong phủ Chúa, đây là đức tính tốt đẹp của Lê Hữu Trác.

- Về nghệ thuật:thơ đan xen trong tác phẩm của ông đã làm cho bài kí của ông đậm chất trữ tình. Lối trần thuật, tài quan sát, tả thực, sắc sảo đã vẽ lên bức tranh vô cùng chân thực tại phủ Chúa.

2.1.2 Thu điếu - Nguyễn Khuyến

​ Thu điếu của Nguyễn Khuyến

“Thu điếu” là bài thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc, cảnh đẹp của mùa thu quê hương, tình yêu thiên nhiên, yêu mùa thu của tác giả nó gắn liền với tình yêu quê hương tha thiết.

- Về nội dung: đó là tình yêu thiên nhiên, tình yêu quê hương tha thiết của tác giả. Khao khát gắn bó với quê hương cùng với tâm hồn thanh cao, khát vọng sống trong sạch bên cạnh đó là tâm trạng u hoài trước thời thế thay đổi.

- Về nghệ thuật: cách gieo vần “eo” khéo léo độc đáo làm cho người đọc cảm nhận mùa thu với không gian nhỏ bé, tù đọng ở nông thôn và rất hợp với tâm trạng u buồn của tác giả. Ngôn ngữ thì trong sáng giản dị, gợi hình,  gợi thanh, gợi cả tâm trạng.

2.1.3 Tự tình II - Hồ Xuân Hương

“Tự tình” là bài thơ thể hiện nỗi buồn, nỗi cô đơn của một người đang rất yêu đời nhưng lại gặp phải cảnh éo le, một con người khao khát tự do yêu đương nhưng lại gặp phải cảnh bất hạnh, bất hạnh trước ước mơ không thành.

- Nội dung: bài thơ nói lên bi kịch, khát vọng hạnh phúc của tác giả. Cho dù là người kiên cường, cố gắng vượt lên trên số phận thế nhưng đến cuối cùng thật trớ trêu, người phụ nữ ấy vẫn rơi vào bi kịch.

- Nghệ thuật: bài thơ được tác giả vận dụng sáng tạo thể thơ thất ngôn bát cú Đường Luật, ngôn từ giản dị, sử dụng các động từ mạnh, từ láy tượng thanh thể hiện cái khát khao cháy bỏng của Hồ Xuân Hương. Sử dụng các hình ảnh diễn tả tâm trạng, cảm xúc một cách tinh tế và phong phú.

>> Đọc thêm: Học sinh nên và không nên ăn gì trong mùa thi cử đang tới gần?

2.1.4 Thương vợ - Tế Xương

“Thương vợ” là bài thơ viết về đề tài tình cảm vợ chồng, đây là đề tài tương đối hiếm, nó thể hiện sự dân chủ trong sáng tác.

- Nội dung: ngợi ca bà Tú - một người vợ tần tảo, giàu đức hi sinh, lo toan chuyện gia đình (cơm áo gạo tiền), sau hình ảnh người vợ tảo tần thì ông Tú là người đầy tâm sự, càng thấy vợ mình vất vả, đảm đang, tháo vát bao nhiêu thì càng thấy mình nhỏ bé, vô dụng bấy nhiêu. Qua đây thể hiện sự bất lực của người thi sĩ trong xã hội lúc bấy giờ.

- Nghệ thuật: cách sử dụng ngôn ngữ giản dị, tự nhiên nhưng giàu sức biểu cảm, cảm xúc. Tác giả vận dụng triệt để hình ảnh con cò để khắc họa bà Tú. Bài thơ được tác giả sử dụng giọng điệu ngợi ca đối với bà Tú, đằng sau đó là giọng đầy bất lực của người chồng  trước thời cuộc. 

2.2 Văn học hiện đại (đầu thế kỉ XX - cách mạng tháng Tám năm 1945)

2.2.1 Hai đứa trẻ - Thạch Lam

“Hai đứa trẻ” là tác phẩm tả cảnh thiên nhiên và đời sống con người nơi phố huyện qua cái nhìn tinh nhạy của cô bé Liên. Bức tranh thiên nhiên ở đây ta có thể hình dung qua 2 từ cụ thể là “ êm ả” và “man mác buồn”

- Nội dung:

+ Về giá trị hiện thực: cuộc sống nghèo khổ, bế tắc quẩn quanh nơi góc chợ của con người như là 2 chị em Liên và An, mẹ con chị Tí, bà cụ Thi điên, bác phở Siêu…cuộc sống bị bao trùm lên bởi bóng tối nên họ không biết cuộc sống, ánh sáng mà họ muốn tìm kiếm đang ở đâu.

+ Về giá trị nhân đạo: xót thương trước số phận những con người nhỏ bé, quẩn quanh nơi phố huyện buồn tẻ, bế tắc. Ca ngợi khát khao về một cuộc sống mới mẻ hơn qua hành động chờ chuyến tàu đêm, đó là sự chờ đợi ánh sáng, thứ ánh sáng rực rỡ từ con tàu Hà Nội chứ không phải ánh sáng nhạt nhòa, buồn tẻ nơi phố huyện.

- Nghệ thuật: miêu tả tâm lí của từng nhân vật từ lúc chiều tà đến khi đêm, không gian nghệ thuật hẹp nhưng rất cụ thể, ngôn ngữ bình dị, giàu tính tạo hình. Truyện ngắn của Thạch Lam là chuyện không có cốt truyện, cảm xúc mơ hồ, mong manh.

2.2.2 Hạnh phúc của một tang gia - Vũ Trọng Phụng

“Hạnh phúc của một tang gia” là tác phẩm phóng đại những chân dung hiếm hoi, những cảnh đời lố bịch, hài hước nhưng chân thực, lật tẩy bộ mặt giả dối của nhiều con người mang đạo đức giả.

- Nội dung: phản ánh bản chất lố lăng, đồi bại của những con người sống trong xã hội thượng lưu. Đó là bội mặt của đám con cháu khốn nạn, giả dối, mất nhân tính mong mỏi cái chết của cụ để thỏa mãn mong ước: khối tài sản kếch xù, để được lăng xê những bộ cánh mốt mới cho gia đình có tang, để chứng minh mình vẫn còn một nửa chữ “trinh”,…

- Nghệ thuật: tạo dựng cảnh tượng trào phúng: cảnh hạ huyệt ở cuối tác phẩm đã lật tẩy bộ mặt của giới thượng lưu với lối sống giả dối, đạo đức giả, thối nát. Xây dựng nhân vật trào phúng, mỗi người một suy nghĩ, một mục đích, đó đều là những suy nghĩ ích kỷ, nhỏ nhen, đê hèn. Tạo dựng tình huống trào phúng đặc sắc, cái chết của cụ Tố cố Hồng là niềm hạnh phúc của con cháu.

2.2.3 Chí Phèo - Nam Cao

“Chí Phèo” là truyện ngắn nói về bi kịch người nông dân cùng khổ bị đẩy vào con đường lưu manh hóa, cự tuyệt quyền làm người, xã hội thực dân nửa phong kiến lúc bấy giờ đã khiến cho một con người lương thiện trở nên bị tha hóa, mất đi quyền làm người.

​ Chí Phèo của Nam Cao

- Nội dung:

+ Giá trị hiện thực: sự tàn ác, bóc lột của bọn thực dân, phong kiến trong thời kì xã hội thực dân nửa phong kiến khiến cho số phận người nông dân trở nên thê thảm, bần cùng, bế tắc, đẩy họ vào con đường lưu manh hóa, chỉ có cái chết mới khiến họ giải thoát được đau khổ.

+ Giá trị nhân đạo: sự cảm thông, chia sẻ của người đọc đối với những con người thấp cổ bé họng trong xã hội, những con người hiền lành, chất phát với những ước mơ nhỏ nhoi lương thiện đã bị tha hóa thành con quỷ dữ trong làng Vũ Đại. Ngay cả khi Chí Phèo muốn hoàn lương thế nhưng xã hội hẹp hòi đã không chừa chỗ cho hắn, đến cuối cùng cái chết là giải quyết dứt điểm, giữ lại cái hoàn lương cho chính bản thân mình. Qua đây, tác giả cũng muốn thể hiện cái niềm tin của mình vào bản chất lương thiện của người nông dân, cho dù xã hội có vùi dập họ đến đâu cũng không thể giết chết cái lương thiện của người nông dân. Ngoài ra, thông qua tác phẩm tác giả cũng muốn kết án đanh thép xã hội lúc bấy giờ, đã phá hủy cả về thể xác và tâm hồn những con người vốn dĩ hiền lành,lương thiện.

- Nghệ thuật: thành công trong việc xây dựng nhân vật, đặt trong cái xã hội điển hình lúc bấy giờ để người đọc của thể thấy rõ được tính cách, số phận của nhân vật. Nghệ thuật trần thuật đặc sắc, đan xen quá khứ và hiện tại một cách linh hoạt, tự nhiên, giọng điệu khách quan nhưng đằng sau đấy là sự xót thương, cảm thông, chia sẻ của tác giả đối với nhân vật. Miêu tả tâm lí, diễn tả tâm lí nhân vật một cách sắc sảo, ngòi bút của tác giả đã lách sâu vào miêu tả nội tâm nhân vật.

2.2.4 Vội vàng - Xuân Diệu

“Vội vàng” là sáng tác tiêu biểu của Xuân Diệu, khẳng định tiếng nói của trái tim, khát khao, cuồng si cuộc sống với đời, là nỗi trăn trở, lo âu, sợ hãi trước sự trôi chảy của thời gian.

- Nội dung: bài thơ như là lời giục giã của tác giả đối với thế hệ trẻ hãy sống vội vàng, tận hưởng hết những gì đẹp đẽ nhất của cuộc đời, của thanh xuân trước khi mình bỏ lỡ. Bởi thanh xuân chỉ đến với cuộc đời bạn có một lần duy nhất và thời gian thì không bao giờ chờ chúng ta cả, thế nên nếu nó trôi qua thì ta sẽ mất nó mãi mãi. Qua đó, tác giả cũng thể hiện lòng mình, khao khát sống mãnh liệt với đời, lo sợ sự trôi chảy của thời gian.

- Nghệ thuật: nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, cách liên tưởng, so sánh mới lạ với hình ảnh thơ độc đáo, gợi hình: tháng Giêng ngon, mùi tháng Năm…ngoài ra tác giả còn sử dụng các hình ảnh nhân hóa, điệp từ, điệp ngữ, động từ mạnh tạo ra nhịp điệu hối hả, vội vàng, rộn rã như là lời giục giã của Xuân Diệu.

2.2.5 Tràng giang - Huy Cận

“Tràng giang”là bài thơ nói lên nét cô đơn của tác giả trước không gian bao la của thiên nhiên, cùng với đó là nét u buồn khắc khoải của tác giả trước không gian mênh mông rộng lớn, nỗi nhớ quê hương của thi sĩ.

- Nội dung:  bức tranh được vẽ lên với sự đối lập, tương phản giữa không gian vũ trụ bao la, mênh mông đối lập với sự sống nhỏ bé lạc lõng, mong manh, đơn chiếc. Bài thơ thể hiện sự cô đơn, sầu vô tận của tác giả, bơ vơ trước thiên nhiên, vũ trụ bao la, đồng thời là tình yêu, nỗi nhớ quê hương đất nước thầm kín của tác giả.

- Nghệ thuật: bài thơ có sự kết hợp khéo léo, hài hòa với yếu tố cổ điển, nhất là yếu tố Đường thi và yếu tố thơ mới. Cái “Tôi” thơ mới lãng mạn, giàu cảm xúc trước thiên nhiên, cảnh vật. Hình ảnh sinh động, phong phú, nhiều sáng tạo bất ngờ trong ngôn từ: sâu chót vót, củi một cành khô, chim nghiêng cánh nhỏ, nước sầu trăm ngả…Đặc biệt hơn là từ thể thơ cho đến thi đề, thi tứ, thi liệu đến thủ pháp nghệ thuật đặc trưng đều được tác giả vận dụng một cách sáng tạo, tài tình.

2.2.6 Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử

“Đây thôn Vĩ Dạ” là bài thơ nói về tình yêu tha thiết nhưng lại pha một chút u buồn ẩn hiện trong khung cảnh thiên nhiên hòa nhưng lại đi sâu vào lòng người, thực và mộng, huyền ảo và thực tế đan xen vào nhau một cách mơ hồ.

​ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

- Nội dung: các hình ảnh trong từng khổ thơ của tác giả mặc dù không liên quan đến nhau nhưng nó lại các mảnh ký ức của tác giả, đồng thời nó cũng là nỗi đau của tác giả trước cuộc sống, khao khát được sống, tha thiết với cuộc đời một cách sâu nặng mà thời gian của đời người thì lại quá ngắn ngủi. Bài thơ như bức tranh vừa thực vừa ảo, có vẻ đẹp trong sáng, tinh khôi mà mơ mộng của xứ Huế. Tất cả đều được tái hiện lại qua kí ức của tác giả.

- Nghệ thuật: hình ảnh mơ mộng, sáng tạo, độc đáo, giàu sức gợi tả, khung cảnh đẫy đà thể hiện khát vọng sống của tác giả. Ngoài ra tác giả còn sử dụng các câu hỏi tu từ, bài thơ với giọng điệu da diết khiến cho người đọc thấy băn khoăn, tiếc thương cho tác giả.

2.2.7 Từ ấy -Tố Hữu

“Từ ấy” là bài thơ nói lên mốc dấu sự trưởng thành của thanh niên cách mạng, bài thơ chính là tiếng reo vui của tác giả khi đứng trước thời cuộc, trong hàng ngũ Đảng cộng sản Việt Nam.

- Nội dung: bài thơ thể hiện niềm vui sướng của tác giả khi được giác ngộ lý tưởng, tâm hồn của một chiến sĩ khi bắt gặp lí tưởng: sự bừng sáng, tiếng reo vui, …có một cái gì đó rất trẻ trung, sôi nổi và say đắm , tâm thế hào hứng,..tất cả đó là cảm xúc của nhân vật “Tôi

- Nghệ thuật: tác giả sử dụng ngôn từ một cách sáng tạo đã lột tả hết tâm trạng vui sướng, say mê, hào hứng… kết hợp với hình ảnh thơ tươi sáng, giọng thơ thì vui tươi, hớn hở, náo nức, thôi thúc.

2.2.8 Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân

“Chữ người tử tù” là tác phẩm của sự kết kinh tài năng, sáng tạo của Nguyễn Tuân. Tác phẩm nói lên sự nuối tiếc đối với những người có tài, nghĩa khí. Đồng thời với đó là sự bày tỏ nỗi đau xót trước cái đẹp chân chính đang dần bị hủy hoại.

- Nội dung: xây dựng thành công nhân vật Huấn Cao, người nghệ sĩ tài cao có lương chi trong sáng, tiêu biểu cho kiểu người vang bóng. Qua đây, ta cũng thấy được quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Tuân, đó là chọn những con người tài hoa, uyên bác, khí phách hiên ngang như Huấn Cao.

- Nghệ thuật: Thủ pháp đối lập đỉnh cao: kẻ tử tù- viên quản ngục, đặc biệt ở cuối truyện tác giả đã cố tình đảo lộn vị trí 2 nhân vật này để nâng cao vị thế của Huấn Cao- đại diện cho thiên lương trong sáng giữa trốn ngục tối bẩn thỉu, tà ác.

2.2.9 Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài - Nguyễn Huy Tưởng

“ Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” nằm trong vở kịch “ Vũ Như Tô”  ở hồi 5, hồi cuối của vở kịch. Đoạn trích có ý nghĩa muôn đời về sự đối lập giữa lí tưởng nghệ thuật cao siêu, thuần túy và lợi ích thiết thực của nhân dân, đó là tấn bi kịch của Vũ Như Tô.

​ Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài của Nguyễn Huy Tưởng

- Nội dung: phản ánh mâu thuẫn giữa khát vọng nghệ thuật của Vũ Như Tô và lợi ích thiết thực của nhân dân. Qua đây tác giả cũng muốn cho người đọc thấy được một bài học đó là nghệ thuật của người người sĩ cũng phải phù hợp với nguyện vọng, lợi ích của nhân dân, cộng đồng. Ngoài ra, tác giả cũng bày tỏ niềm cảm thông, mến phục trước người nghệ sĩ có tài năng, hoài bão lớn những không gặp thời (bi kịch giữa lý tưởng và thực tế)

- Nghệ thuật: là một đoạn trích nhưng lại thể hiện kết cấu của một vở kịch: biến cố, xung đột, giải quyết xung đột, sự kiện. Bi kịch được diễn đạt theo chiều thăng tiến, mức độ dồn dập thể hiện tính gay gắt của  mâu thuẫn, đẩy xung đột kịch lên cao trào.

2.2.10 Chiều tối - Hồ Chí Minh

“Chiều tối” nằm trong tập “Nhật kí trong tù”, bài thơ đơn giản là tả cảnh nơi thôn dã vào một buổi chiều tối, thể hiện trong đó những ước mơ, khát vọng tự do của bản thân, mong muốn quay trở lại quê hương để tiếp tục sứ mệnh của mình.

- Nội dung: miêu tả sinh động hình ảnh thiên nhiên qua cánh chim, chòm mây, hoạt động của con người nơi thôn dã khi màn đêm đang dần buông xuống. Khao khát tự do, tấm lòng nhân đạo luôn hướng tới ánh sáng, tương lai của Bác. Mặc dù bị giam cầm về thể xác nhưng tâm hồn bác luôn tự do, đó là tình yêu thiên nhiên, tình yêu quê hương đất nước mong ngóng một ngày rời khỏi đây để tiếp tục sứ mệnh của mình.

- Nghệ thuật: ngôn ngữ thơ hàm xúc , chân thực, giàu chất tạo hình. Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt với những hình ảnh đậm chất cổ điển, tạo dựng không gian có nét chấm phá giúp cho người đọc có thể hình dung ra một bức tranh thiên nhiên, cuộc sống con người.

Trên đây là tất cả các tác phẩm văn học Việt Nam qua hai thời kỳ trong chương trình Ngữ văn lớp 11. Hy vọng với những gì tôi chia sẻ trên đây sẽ giúp các bạn trong việc học tập. Hãy để Vieclam123.vn giúp đỡ các bạn trong học tập nhé!!!